Các bài viết cũ

Phát hiện voi ma mút nhỏ nhất thế giới


Những con voi mammoth “bé hạt tiêu” này không sở hữu bộ lông dày đặc như len của mammoth bình thường. Thay vào đó, các nhà nghiên cứu tin rằng chúng thích nghi với môi trường ấm hơn và có hình thức giống với giống voi châu Phi/châu Á hiện đại hơn. 

Advertisements

Tại sao khủng long khổng lồ đẻ con bé xíu?


Một nghiên cứu mới có thể giải thích một số bí ẩn về khủng long, như tại sao loài động vật khổng lồ lại sinh con bé xíu, tại sao khủng long không bay lại tuyệt chủng, và tại sao chim ngày nay lại bay.

Nghiên cứu đăng trên tạp chí Biology Letters giải thích cách mà chim và động vật có vú có thể sống sót qua giai đoạn tuyệt chủng cách đây 65,5 triệu năm. Kích thước cơ thể to lớn và cách đẻ trứng của khủng long có thể đóng vai trò quan trọng.

Cá biển là con cháu của cá sông?


Cá biển là con cháu của cá sông?

Nghiên cứu mới ở Mỹ đã chứng minh cá biển hiện nay đều tiến hóa từ các loài cá nước ngọt. Các nhà khoa học cho rằng đây chính là lý do đại dương chiếm đến 75% bề mặt trái đất nhưng lại chứa rất ít loài cá cũng như sinh vật, từ 15% đến 25% số loài ước tính toàn cầu.
Nghiên cứu được tiến hành bởi nhóm tiến sỹ John J. Wiens và các sinh viên Khoa Sinh thái và Tiến hóa, Đại Học Stony Brook, Mỹ; kết quả được đăng trên tạp chí Proceedings of the Royal Society.
Wiens và sinh viên đã xem xét đa dạng sinh học của cá vây tia, loài cá có số lượng loài đông nhất trong tất cả những loài động vật có xương sống trong môi trường nước mặn và chiếm 96% tổng số các loài cá hành tinh.
Biển có nhiều loài sinh vật lạ nhưng lại không có đa dạng loài phong phú bằng đất liền.
Họ phân tích những cây tiến hóa dựa trên hóa thạch và dữ liệu DNA (nguyên liệu di truyền của sinh vật). Họ cũng phân tích trên một cơ sở dữ liệu lớn về môi trường sống của gần như mọi loài cá tồn tại hiện nay.
Phân tích chỉ ra sự khác biệt đáng ngạc nhiên về đa dạng sinh học giữa môi trường sống nước ngọt và nước mặn. “Có nhiều loài cá trong môi trường nước ngọt hơn trong môi trường nước mặn, dù môi trường nước ngọt chỉ chiếm khoảng 2% bề mặt trái đất. Đáng ngạc nhiên hơn nữa, hầu hết các loài cá nước mặn còn sống hiện nay đều là hậu duệ của các tổ tiên cá nước ngọt”, Physorg dẫn lời tiến sỹ Wiens.
Kết quả này thoạt nghe có vẻ mâu thuẫn với “định đề” rằng sự sống bắt nguồn từ biển. Song, giả thuyết được đưa ra là, những cuộc đại tuyệt chủng trong môi trường nước mặn hàng trăm triệu năm trước đã ảnh hưởng đến hành trình “di dân” và tiến hóa của cá.
Ông giải thích cụ thể, đúng là ban đầu các loài cá nước ngọt đã đa dạng hóa từ các tổ tiên nước mặn, nhưng sau đó những tổ tiên nước mặn đó đã bị tuyệt chủng hoàn toàn. Để rồi, cá nước ngọt lại quay lại đại dương, tiến hóa thành các loài cá nước mặn như ngày nay (và cũng vì thế các hậu duệ trên có ít thời gian hơn để phát triển đa dạng sinh học). Đây là lý do vì sao các đại dương rất nghèo các loài sinh vật, thậm chí là cá.

Sự tồn tại của các loài thực vật có hoa phụ thuộc vào loài côn trùng thụ phấn đặc trưng


Sự tồn tại của các loài thực vật có hoa phụ thuộc vào loài côn trùng thụ phấn đặc trưng

Một con ong (orchid bee) đực đang thu thập các hợp chất hương thơm từ hoa của cây phong lan Notylia. Con ong cái (orchid bee) sẽ chọn bạn tình dựa trên sự pha trộn của các hợp chất hóa học.
Loài ong thụ phấn cho cây phong lan (orchid bee) không quá phụ thuộc vào loài cây phong lan trong quá trình tiến hóa, theo kết quả của một nghiên cứu mới, đã thách thức quan điểm phổ biến về cách thức mà: thực vật và loài côn trùng thụ phấn cho nó, phát triển cùng nhau.
Lâu nay các nhà sinh vật học vẫn cho rằng: các giống loài trong mối quan hệ hợp tác chuyên môn cao thường tham gia vào một quá trình tiến hóa đồng thời, liên tục cùng với nhau.
“Những gì chúng tôi thấy là quá trình tiến hóa một cách chuyên môn đối ứng đã không tồn tại giữa loài ong thụ phấn cho cây phong lan và cây phong lan”, theo tiến sĩ thực tập Santiago Ramirez, tác giả hàng đầu của nghiên cứu trên và là nhà nghiên cứu làm việc tại phòng thí nghiệm của phó giáo sư Neil Tsutsui Khoa Khoa học môi trường, chính sách và quản lý, Đại học California Berkeley Hoa Kỳ.
“Con ong phát triển sớm hơn nhiều một cách độc lập, trong khi hoa lan xuất hiện đã bị bắt kịp”.
Liên kết cụ thể giữa những con ong và các loài cây phong lan: chúng đến với nhau và đã được ghi nhận bởi các nhà thực vật học và các nhà tự nhiên học, bao gồm cả Charles Darwin. Các nhà sinh vật học phát hiện ra rằng các con ong đực cần các hợp chất nước hoa cụ thể được sản xuất bởi loài thực vật có hoa này để giao phối với những con ong cái.
Trong nghiên cứu, được công bố trên tạp chí Science, số ra ngày 23 tháng 9 năm 2011, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra hơn 7.000 con ong đực và trình tự DNA từ 140 lan pollinaria, gói nhỏ có chứa tất cả các hạt phấn hoa được sản xuất bởi một bông hoa duy nhất. Các nhà nghiên cứu đã có thể suy ra lịch sử tiến hóa của cả ong và cây phong lan và cách thức mà loài ong này thụ phấn. Các nhà nghiên cứu cũng xác định số lượng và phân tích các loại nước hoa được thu thập bởi những con ong phong lan và so sánh chúng với các hợp chất được sản xuất bởi hoa của cây phong lan.
Thật ngạc nhiên, các nhà khoa học phát hiện ra rằng những con ong này đã phát triển ít nhất 12 triệu năm trước so với các đối tác cây phong lan của chúng. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng các hợp chất được sản xuất bởi hoa phong lan chỉ chiếm 10% lượng các hợp chất được thu thập bởi các con ong này. 90% lượng các hợp chất còn lại có thể đến từ các nguồn khác, bao gồm cả nhựa cây.
“Điều này cho thấy rằng những con ong đực trong hóa trình tiến hóa đã thu thập những hợp chất này từ rất nhiều nguồn cung cấp khác nhau, và các cây phong lan đã tiến hóa chậm hơn đến hàng nhiều triệu năm”, theo Ramirez.
Về bản chất, cây phong lan có nhu cầu bức thiết là cần được thụ phấn bởi những con ong lớn hơn nhiều so với những đòi hỏi ngược lại của các con ong với cây phong lan.
Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với công tác bảo tồn sinh học, đặc biệt là do sự suy giảm đáng báo động trong vòng 15 năm qua của con ong thụ phấn trên toàn thế giới.
“Nhiều loài thực vật rất là phụ thuộc vào loài côn trùng thụ phấn đặc trưng của chúng”, theo Ramirez, người đã bắt đầu công việc này trong khi còn là một nghiên cứu sinh trong phòng thí nghiệm của giáo sư sinh học Naomi Pierce, Đại học Harvard, Hoa Kỳ. “Nếu một loài ong bị tuyệt chủng , thì tương ứng có đến 3-4 loài hoa phong lan biến mất”.
Nhiều họ hàng trong số các loài lan này không tạo ra bất kỳ loại hình thức khác của phần thưởng, chẳng hạn như mật hoa, để mà có thể thu hút được các loài côn trùng thụ phấn khác.
Ramirez cho biết: “Nghiên cứu của chúng tôi là phù hợp với lý thuyết mới: những ý kiến ​​ cho rằng côn trùng đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự sinh sôi nẩy nở của các loài thực vật có hoa”. “Điều này đã làm nổi bật sự phụ thuộc giữa các hệ sinh thái, cũng như quá trình tiến hóa của thực vật có hoa và côn trùng thụ phấn đặc trưng của chúng, cho thấy rằng mối đe dọa mới cho các loài côn trùng thụ phấn có thể gây ảnh hưởng sâu sắc đến các hệ sinh thái mà các loài thực vật có hoa đang sinh sống”.
Yêu động vật (theo Newscenter)

Hiểm họa mới từ chuột nhà châu Âu


Hiểm họa mới từ chuột nhà châu Âu

Các nhà khoa học cho biết, một số chuột nhà ở châu Âu đã phát triển được khả năng chống lại những chất độc mạnh nhất dùng để tiêu diệt chúng.

Theo hãng thông tấn BBC, các con chuột nhà ở Đức và Tây Ban Nha đã nhanh chóng trang bị thêm “vũ khí sinh tồn” bằng cách lai giống với một loài chuột Algeria mà chúng đã ly khai từ hơn một triệu năm qua. Các nhà nghiên cứu cho biết, kiểu truyền gen này giữa các loài khác nhau rất khác thường và lâu nay thường chỉ được phát hiện ở thực vật và vi khuẩn.

Chuột nhà châu Âu đã phát triển được khả năng chống lại những chất độc mạnh
nhất dùng để tiêu diệt chúng nhờ lai giống với một loài chuột Algeria. (Ảnh: BBC)

Các nhà khoa học lo ngại, dạng tiến hóa nhanh chóng nhưng hiếm hoi này có thể báo trước sự sinh sôi nảy nở của các thế hệ gặm nhấm mới, có khả năng kháng cự lại hầu hết những chất hóa học dùng để tiêu diệt chúng. Ví dụ như trường hợp của warfarin – một loại thuốc được sử dụng rộng rãi trong y học như chất chống đông máu, ngăn chặn việc hình thành các cục máu đông gây hại. Nó hoạt động thông qua việc ức chế một protein được gọi là VKORC1, vốn quyết định khả năng sản sinh vitamin K cần thiết cho quá trình đông máu của chúng ta.

Quá nhiều warfarin có thể dẫn tới tình trạng xuất huyết gây tử vong. Chính đặc tính này đã khiến warfarin được ứng dụng vào việc sản xuất một loại thuộc diệt chuột trong những năm 1950. Tuy nhiên, các con chuột dần dần đã phát triển được khả năng kháng warfarin và nhiều nhóm chuột sở hữu thứ vũ khí mới này đã được tìm thấy ở nhiều nơi trên khắp thế giới.

Giáo sư Michael Kohn thuộc Đại học Rice ở Houston, Texas (Mỹ) và là người dẫn đầu cuộc nghiên cứu, khẳng định: “Nghiên cứu của chúng tôi rất đặc biệt vì nó liên quan đến cả việc lai tạo giữa hai loài chuột đã ly khai nhau từ 1,5 – 3 triệu năm qua. Hầu hết con cái của chúng không sinh sản vì bị vô sinh. Tuy nhiên, vẫn còn một cánh cửa nhỏ cho việc di truyền gen từ thế hệ này sang thế khác do vẫn có một số ít chuột cái có khả năng sinh sản”.

Nhờ số chuột cái có khả năng sinh sản ít ỏi này, số lượng lớn chuột ở Tây Ban Nha và Đức đã thu được khả năng kháng độc tuyệt vời trong một thời gian rất ngắn, dù các nhà khoa học vẫn không chắc thời điểm xảy ra cuộc trao đổi gen đầu tiên.

Yêu động vật (Theo BBC, Vietnamnet)

Hiểm họa mới từ chuột nhà châu Âu


Hiểm họa mới từ chuột nhà châu Âu

Các nhà khoa học cho biết, một số chuột nhà ở châu Âu đã phát triển được khả năng chống lại những chất độc mạnh nhất dùng để tiêu diệt chúng.

Theo hãng thông tấn BBC, các con chuột nhà ở Đức và Tây Ban Nha đã nhanh chóng trang bị thêm “vũ khí sinh tồn” bằng cách lai giống với một loài chuột Algeria mà chúng đã ly khai từ hơn một triệu năm qua. Các nhà nghiên cứu cho biết, kiểu truyền gen này giữa các loài khác nhau rất khác thường và lâu nay thường chỉ được phát hiện ở thực vật và vi khuẩn.

Chuột nhà châu Âu đã phát triển được khả năng chống lại những chất độc mạnh
nhất dùng để tiêu diệt chúng nhờ lai giống với một loài chuột Algeria. (Ảnh: BBC)

Các nhà khoa học lo ngại, dạng tiến hóa nhanh chóng nhưng hiếm hoi này có thể báo trước sự sinh sôi nảy nở của các thế hệ gặm nhấm mới, có khả năng kháng cự lại hầu hết những chất hóa học dùng để tiêu diệt chúng. Ví dụ như trường hợp của warfarin – một loại thuốc được sử dụng rộng rãi trong y học như chất chống đông máu, ngăn chặn việc hình thành các cục máu đông gây hại. Nó hoạt động thông qua việc ức chế một protein được gọi là VKORC1, vốn quyết định khả năng sản sinh vitamin K cần thiết cho quá trình đông máu của chúng ta.

Quá nhiều warfarin có thể dẫn tới tình trạng xuất huyết gây tử vong. Chính đặc tính này đã khiến warfarin được ứng dụng vào việc sản xuất một loại thuộc diệt chuột trong những năm 1950. Tuy nhiên, các con chuột dần dần đã phát triển được khả năng kháng warfarin và nhiều nhóm chuột sở hữu thứ vũ khí mới này đã được tìm thấy ở nhiều nơi trên khắp thế giới.

Giáo sư Michael Kohn thuộc Đại học Rice ở Houston, Texas (Mỹ) và là người dẫn đầu cuộc nghiên cứu, khẳng định: “Nghiên cứu của chúng tôi rất đặc biệt vì nó liên quan đến cả việc lai tạo giữa hai loài chuột đã ly khai nhau từ 1,5 – 3 triệu năm qua. Hầu hết con cái của chúng không sinh sản vì bị vô sinh. Tuy nhiên, vẫn còn một cánh cửa nhỏ cho việc di truyền gen từ thế hệ này sang thế khác do vẫn có một số ít chuột cái có khả năng sinh sản”.

Nhờ số chuột cái có khả năng sinh sản ít ỏi này, số lượng lớn chuột ở Tây Ban Nha và Đức đã thu được khả năng kháng độc tuyệt vời trong một thời gian rất ngắn, dù các nhà khoa học vẫn không chắc thời điểm xảy ra cuộc trao đổi gen đầu tiên.

Yêu động vật (Theo BBC, Vietnamnet)