Các bài viết cũ

Theo dõi bạch tuộc lớn nhất thế giới


Theo dõi bạch tuộc lớn nhất thế giới

Các nhà khoa học Mỹ bám theo 40 con bạch tuộc có kích thước lớn nhất hành tinh để tìm hiểu tập tính của chúng.

Các

Read the rest of this entry

Advertisements

Loài bò sát “đặc sản” mang tên nhà khoa học Việt Nam


Loài bò sát “đặc sản” mang tên nhà khoa học Việt Nam

Loài này có tên khoa học là Leiolepis ngovantrii – được đặt theo tên nhà khoa học Ngô Văn Trí đấy các bạn ạ!
Khách du lịch đến với vùng đồng bằng sông Mê Kông từ lâu đã có cơ hội được thưởng thức một món “đặc sản” – đó là một loài nhông cát đặc hữu. Tuy nhiên, ít người biết rằng, món ăn tồn tại trong thực đơn của các quán nhậu đến hàng thập kỷ ấy là một loài bò sát chỉ mới được nhận dạng và ghi lại trong các báo cáo khoa học trong năm vừa qua.
Loài nhông này được phát hiện bởi Ngô Văn Trí (một nhà khoa học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) khi ông có dịp đến Bà Rịa – Vũng Tàu.
Nhận thấy đây là con vật lạ, nhà khoa học này đã chụp ảnh và gửi cho Lee Grismer, nhà nghiên cứu động vật bò sát thuộc Đại học La Sierra (Mỹ) để ông cùng nghiên cứu.
Bằng các biện pháp nghiên cứu khoa học, loài nhông này được xác định thuộc họ thằn lằn Leilopis, được tìm thấy nhiều ở vùng Đông Nam Á, trong lãnh thổ các quốc gia như Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Ngoài ra, chúng còn sinh sống ở phía Nam Trung Quốc, Indonesia và Malaysia.
Hình ảnh loài nhông Leiolepis ngovantrii.
Loài nhông này có kích cỡ tương đối nhỏ, chiều dài đầu và thân mình khoảng 11,5cm. Chúng sở hữu màu sắc cơ thể đẹp, trên lưng là những đốm nâu trắng nhạt hình mắt lưới, nhỏ dần về phía đuôi cùng với các sọc vàng bên cạnh thân. Màu sắc này giúp chúng ngụy trang tránh kẻ thù tốt hơn khi ở trong rừng.
Nó sống hầu hết ở khu vực ven biển, các khu có rừng tràm, nơi chúng có thể xây dựng được những hang, hốc trong đất cát. Chính vì thế mà chúng được đặt cái tên là nhông cát. Những chú nhông này hoạt động nhiều nhất trong suốt thời gian vào buổi sáng và sẽ rút lui vào trong hang khi nắng lên tới đỉnh đầu.
Khi phân tích DNA, điều khiến các nhà khoa học quan tâm ở loài nhông này là hầu hết số nhông trong quần thể đều là con cái. Điều đặc biệt hơn là việc những chú nhông cát này sinh sản theo hình thức sinh sản vô tính, vốn chỉ thấy ở các loài sinh vật nguyên sinh đơn bào hay một số thực vật và nấm. Bên cạnh đó, chỉ có một số trường hợp hiếm hoi các loài động vật khác sinh sản không cần thụ tinh như rồng Komodo, một vài loài cá mập và một vài loài thằn lằn. Bởi số con nhông cái trong quần thể chiếm ưu thế nên chỉ cần có một cá thể cái là có thể duy trì giống nòi, các cá thể con sinh ra sẽ mang bộ gen giống hệt cá thể mẹ.
Hình ảnh rồng Komodo – một trong số những các loài động vật khác sinh sản không cần thụ tinh.
Một vài giả thiết đưa ra cho rằng, sinh sản vô tính ở động vật đa bào có thể mang đến thuận lợi lớn cho sự phát triển của quần thể (trong điều kiện môi trường ổn định), đồng thời duy trì mức độ biến dị qua quá trình đột biến ngẫu nhiên.
Loài nhông cát này là một trong bốn loài nhông cát đặc hữu đã được phát hiện tại Việt Nam. Với tình trạng hiện hữu thường xuyên trong thực đơn của các nhà hàng như vậy, chúng rất cần được đưa vào Sách đỏ để bảo vệ trước khi tuyệt chủng.
Yêu động vật (Theo kenh14)

CÔNG BỐ THÊM 9 LOÀI CHUỒN CHUỒN NGÔ MỚI CHO VIỆT NAM


CÔNG BỐ THÊM 9 LOÀI CHUỒN CHUỒN NGÔ MỚI CHO VIỆT NAM

Các nhà khoa học Nhật Bản vừa công bố các công trình nghiên cứu ghi nhận thêm 9 loài chuồn chuồn ngô mới cho khu hệ Việt Nam; trong đó có 3 loài mới cho khoa học (new species) và 6 loài là ghi nhận mới cho khu hệ (new records). Công trình được công bố trên tạp chí về chuồn chuồn học TOMBO, Fukui (Nhật Bản).

Tiến sỹ côn trùng học Haruki Karube ở Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Kanagawa, Nhật Bản cùng các đồng nghiệp đã thực hiện nhiều chuyến nghiên cứu khảo sát thu thập mẫu vật côn trùng ở Việt Nam từ nhiều năm nay, qua đó đã công bố nhiều công trình về khu hệ chuồn chuồn của khu vực này; ví dụ năm 1995 H. Karube công bố 5 loài mới của giống Chlorogomphus (Họ Chlorogomphidae) từ các tỉnh phía bắc Việt Nam; từ 1999-2006 H. Karube đã công bố tới 11 loài chuồn chuồn mới cho khoa học từ các vùng trong cả nước như Pioac (Cao Bằng), Sapa (Lào Cai), VQG Cúc Phương (Ninh Bình), VQG Bạch Mã (Thừa Thiên Huế), Hòn Bà (Nha Trang)…

Đầu năm 2011, H. Karube tiếp tục công bố phát hiện 3 loài chuồn chuồn ngô mới cho khoa học từ Việt Nam, đó là các loài Cephalaeschna asahinai và Planaeschna asahinai (họ Aeshnidae) từ VQG Bạch Mã (tỉnh Thừa Thiên Huế); và loài Idionyx asahinai (họ Cordullidae) từ Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng). Tất cả các loài trên đều được đặt theo tên của nhà nghiên cứu chuồn chuồn nổi tiếng người Nhật Bản, TS. Syoziro Asahina (1913-2010) nhằm ghi nhận những đóng góp to lớn của ông trong lĩnh vực nghiên cứu chuồn chuồn trên thế giới. Bên cạnh đó, tác giả còn ghi nhận thêm 6 loài chuồn chuồn ngô mới cho khu hệ Việt Nam, đó là các loài Epophthalmia frontalis frontalis Selys, 1871, Macromia clio Ris, 1916, Macromia cupricincta Fraser, 1924 (họ Macromiidae); và Macromidia genialis shanensis (Fraser, 1927), Idionyx victo Hämäläinen, 1991, Idionyx carinata Fraser, 1926 (họ Corduliidae). Từ kết quả nghiên cứu này, cùng với những công bố liên tiếp trong thời gian gần đây của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về khu hệ chuồn chuồn của Việt Nam đã chứng tỏ mức độ đa dạng sinh học cao của khu vực này. Tin rằng trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều phát hiện hơn nữa về đa dạng các loài chuồn chuồn nói riêng và các loài động thực vật nói chung ở Việt Nam.

Yêu động vật (Theo vncreatures.net)

Ứng xử với cá thiêng: tín ngưỡng thắng khoa học?


Ứng xử với cá thiêng: tín ngưỡng thắng khoa học?

Gần đây, có khá nhiều trường hợp sinh vật biển quý hiếm trôi dạt vào bờ biển miền Trung, trong đó có loài cá theo quan niệm của ngư dân là cá thiêng: cá voi (cá ông), cá heo. Hầu hết chúng đều chết sau đó, vì chỉ có dân địa phương hì hục cúng bái chứ không thấy sự tiếp sức của các nhà khoa học và giới hữu quan.
Mới đây nhất, trưa 27.8, người dân Quy Nhơn phát hiện một con cá heo cái màu đen, dài 1,5m, nặng trên 40kg, trôi dạt vào bờ biển trong tình trạng bị thương. “Cô” cá được để trên ban thờ hương án, có người làm lễ chủ trì hương khói, tụng kinh, xung quanh có cờ, lọng treo hai bên, và có người giữ cho “cô” không quẫy rớt.
Sau những nỗ lực thả về biển thất bại, “cô” cá được tế sống trong tình trạng phía dưới vi ở khu vực bụng có dấu hiệu bị thương, hai mắt cá heo chảy nhiều nước, lỗ mang trên đầu vẫn còn thở và thi thoảng cá heo vẫn quẫy đạp. Rất đông người dân đã đến xem và thắp hương vái tạ. Người dân đã ứng xử đúng với tín ngưỡng tâm linh của họ.
Thế nhưng, về khoa học lại phản ánh sự “hụt hơi” của các cơ quan hữu trách các cấp khi chưa có sự ứng xử tích cực hơn với những sinh vật quý. Để cứu sống cá, cần có sự xuất hiện và tiếp sức của những nhà khoa học hữu quan, tuy nhiên như bộc bạch của một chuyên gia bảo tồn, “những trung tâm cứu hộ rất ít, hoạt động giải cứu động vật hoang dã cũng đang nhờ vào sự hợp tác của các tổ chức phi chính phủ”.
Ông Chu Anh Khánh, cán bộ viện Hải dương học Nha Trang cho rằng, chuyện những loài cá quý như cá voi, cá heo, hải cẩu… trôi dạt vào biển miền Trung không có gì bất thường cả, mà do chúng tách đàn, trôi lạc theo dòng hải lưu, bị bệnh hoặc bị thương. Nếu con vật còn sống, cần lập tức đưa con vật trở ra khơi. Nếu con vật bị thương, phải cứu hộ ngay.
Còn khi sinh vật biển đã chết và được thờ cúng, không thể bài xích hay ngăn cấm tín ngưỡng dân gian nhưng cần phải giúp người dân có cái nhìn khoa học hơn.
Với những loài cá lớn như cá voi, sau khi ngư dân cúng bái, cần nhanh chóng chôn cất để không ảnh hưởng đến môi trường. Ông Khánh cho biết một số ngư dân còn giữ những tập tục lạc hậu như thấm khăn mặt vào chất dịch chảy ra từ xác cá đang thối rữa, vắt vào lọ để làm thuốc chữa mụt nhọt!
Chuyện “có kiêng có lành” không chỉ khu biệt riêng nghề đi biển. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, không thể để mặc ngư dân trơ trọi với lòng tin vào sự phù hộ của các thế lực siêu nhiên theo tín ngưỡng cổ truyền của họ, trong lúc bất trắc biển khơi đang ngày càng khó lường.
Yêu động vật (Theo SGTT.VN)

Phát hiện hóa thạch loài rắn đầu rồng


Phát hiện hóa thạch loài rắn đầu rồng

Các nhà khoa học Brazil vừa phát hiện hóa thạch một loại quái vật biển có tên “Rắn đầu rồng” niên đại khoảng 85 triệu năm tại vùng biển Nam Cực.
Đây là phát hiện mới nhất về loài động vật sinh sống ở vùng biển Nam Cực, trước đây các nhà khoa học cũng đã từng phát hiện hóa thạch của loài động vật sinh sống ở đây có niên đại khoảng 15 triệu năm.
Ảnh phục chế loài rắn đầu rồng tại Nam Cực (Ảnh: Tech.gmw)
Trưởng nhóm nghiên cứu Alexandria – Koerner, công tác tại trường Đại học Liên bang Rio de Janeiro, Brazil, cho biết: “Chúng tôi thấy rằng những mảnh vỡ không phải là một phần của hóa thạch trước đây đã được biết đến cuộc sống của nó ở châu lục này, điều này cho thấy sự đa dạng của loài rắn đầu rồng ở Nam cực rất phong phú“. Hóa thạch rắn đầu rồng vừa phát hiện có chiều dài khoảng 6 đến 7 mét.
Tuy nhiên, những mảnh xương hóa thạch này không thể xác định chúng thuộc chủng loại rắn đầu rồng nào. Hóa thạch này được phát hiện trong lần thu thập hóa thạch và nham thạch vào năm 2006 và năm 2007 tại đảo Ross Nam Cực.
Các hóa thạch khác thu thập được hiện đang được lưu giữ trong Bảo tàng Quốc gia, chủ yếu là xương sống động vật và thực vật hóa thạch bao gồm một mẩu thân cây cùng thời với hóa thạch rắn đầu rồng, những mẩu gỗ cho thấy sự sinh trưởng tươi tốt lúc bấy giờ ở các khu rừng thuộc Nam Cực.
Phát hiện này là phát hiện mới nhất về loài quái vật biển vừa được công bố.
Yêu động vật (Theo Đất Việt)

Trái Đất có bao nhiêu loài sinh vật?


Trái Đất có bao nhiêu loài sinh vật?

Sau khi phân loại sinh vật theo hình thức sinh tồn, các nhà khoa học thuộc dự án Cencus of Marine Life ước tính rằng Trái Đất có khoảng 8,7 triệu loài nhưng 90% chưa được khám phá.
Bằng cách phân tích tỷ lệ phân cấp giữa những nhóm loài cùng giống, các nhà khoa học dự đoán được cả lượng sinh vật sơ cấp nhất dù chưa được tìm thấy.
Với tiến độ nghiên cứu hiện nay, phải mất khoảng 
500 năm nữa người ta mới có thể phân loại hết sinh vật trên Trái Đất.
Tính theo công thức này thì Trái Đất có khoảng 7,77 triệu loài động vật, 298,000 loài thực vật và khoảng 611.000 loài nấm. Hầu như các loài sinh vật chưa được khám phá đều còn ẩn sâu dưới biển hoặc trong lòng đất.
Với tiến độ nghiên cứu hiện nay, phải mất khoảng 500 năm nữa người ta mới có thể phân loại hết sinh vật trên Trái Đất. Tuy nhiên, khoa học tiến bộ sẽ giúp công việc này sớm hoàn thành.
Yêu động vật (Theo Bee)