Các bài viết cũ

Những sinh vật có thể bạn chưa từng biết tới


Những sinh vật có thể bạn chưa từng biết tới

 

 

 

 

Yêu động vật

Những sinh vật có thể bạn chưa từng biết tới


Những sinh vật có thể bạn chưa từng biết tới

 

 

 

 

Yêu động vật

“Cá vây tay” loài cá cổ đại nhất thế giới


“Cá vây tay” loài cá cổ đại nhất thế giới

Không chỉ là một trong những cá vây tay của các loài cá cổ đại nhất thế giới, mà các cá thể của loài này tồn tại rất lâu dài. Một nghiên cứu mới cho thấy những con cá cổ đại có thể sống tới một trăm năm và thậm chí lâu hơn.

Cho đến năm 1938, khi một cá vây tay đã được tìm thấy ngoài khơi bờ biển châu Phi, các nhà nghiên cứu đã tin rằng cá đã bị tuyệt chủng 65 triệu năm trước.

Sau khi khám phá sự tồn tại của cá vây tay, một số người dân đã phát hiện chúng có mặt của chúng ở Tây Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Các quần thể này đã được nối liền nhau một cách bí ẩn. Khi nghiên cứu các nhà khoa học đã tìm thấy một quần thể cá vây tay gần Comoros, một nhóm các hòn đảo giữa Seychelles và Madagascar.

Do cá vây tay sống ở đô sâu từ 160m đến 200m nên các nhà nghiên cứu vướng phải một các khó khăn nhất định ngoài việc dùng các thợ lặn, nhóm nghiên cứu còn sử dụng đến các tàu ngầm robot để ghi lại hình ảnh của chúng.

Hiện nay các nhà nghiên cứu chưa thể biết các vây tay sinh sản ra sao, tỷ lệ tử vong của cá vây tay rất thấp, tuổi của một con cá vây tay không thể xác định nếu dùng các phương pháp đo tuổi các loài cá như hiện nay vì cá vây tay hầu như không thay đổi theo thời gian. Các nhà nghiên cứu ước tính cá vây tay có tuổi thọ lên đến 103 năm tuổi.

Vẫn còn nhiều bí ẩn cần nghiên cứu về loài cá tiền sử này

Yêu động vật (Theo Nationalgeographic)

Những loài chim hiếm nhất thế giới


Những loài chim hiếm nhất thế giới

Hình ảnh những loài chim hiếm nhất thế giới đã được các nhiếp ảnh gia ghi lại trong khuôn khổ một cuộc thi quốc tế nhằm thu thập ảnh về 566 loài chim bị nguy hiểm nhất trên trái đất.



Một loài cò quăm châu Á.


Các nhiếp ảnh gia đã đi đến những nơi xa xôi nhất trên hành tinh và dành nhiều tuần chụp ảnh để có được các bức hình về những loài chim quý hiếm của thế giới. Dưới đây là một số bức ảnh đoạt giải trong cuộc thi.

Bức ảnh chụp một loài vẹt của New Zealand của tác giả Shane McInnes đã đoạt giải nhất hạng mục Loài chim bị nguy hiểm trầm trọng hoặc tuyệt chủng trong hoang dã.

Một loài vịt quý hiếm của Brazil.


Một loài chim chiến trên đảo Giáng sinh của Australia trong vùng biển Ấn Độ Dương.

Một con cú rừng tại khu bảo hồn hổ Melghat ở Maharashtra, Ấn Độ.

Ảnh loài chim Palila quý hiếm có màu sắc sặc sỡ của tác giả Eric VanderWerf tại Hawaii.

Một loài chim của Honduras.

Một con sếu đầu đỏ từ Đông Á.

Một con chim ruồi từ Peru.

Một con chim ôtit Ấn Độ.

Ảnh một loài vịt của tác giả Martin Hale ở Giang Tây, Trung Quốc.

Cặp vẹt bụng màu vàng cam từ Tasmania.

Một con cò quăm bị “hói đầu” của tác giả Adam Riley ở Morocco.

Yêu động vật (Theo Dân Trí)

Phát hiện 8 loài cá mới tại Indonesia


Phát hiện 8 loài cá mới tại Indonesia

Theo CNN, các nhà khoa học đã phát hiện được tất cả 8 loài cá lạ, chưa từng được biết đến thường sinh sống dưới các vỉa đá, san hô dưới biển khi họ đang tiến hành nghiên cứu các vùng nước san hô quanh đảo Bali của Indonesia.

Tổ chức bảo tồn quốc tế (Conservation International) cho biết 8 loại cá mới được phát hiện bởi một nhóm gồm 10 nhà khoa học. Họ đã phát hiện ra những loài thuỷ sinh mới lạ này trong suốt 2 tuần tiến hành khảo sát quanh đảo Bali.

Mark Erdmann, cố vấn cao cấp của chương trình nghiên cứu đại dương của Conservation International cho biết ông tin đến 99 % rằng đây là những loài cá chưa từng được biết đến.

“Bali từng là điểm đến hấp dẫn nhiều du khách và có nhiều hoạt động lặn biển khám phá đại dương, tuy nhiên, kết quả mới phát hiện được cho thấy vẫn có những điều kỳ diệu chưa từng được tìm ra”.

Các loại cá được đặt tên như sau: Apogon, Siphamia, Manonichthys ,Pseudochromis, Heteroconger, Parapercis, Meiacanthus, Grallenia.

Yêu động vật ((GDVN) – Theo CNN)

Cá rồng biển sự thật hay huyền thoại


Cá rồng biển sự thật hay huyền thoại

Khi bay sát mặt biển Ấn Độ Dương vào một ngày cuối năm 1968, hai phi công Liên Xô nhìn mấy con quái vật khổng lồ hình rắn. Họ không phải là những người duy nhất gặp “rồng biển”, một loài vật mà sự tồn tại đã được nghiên cứu từ thế kỷ 13.

Từ xa xưa, rồng biển đã là một đề tài phổ biến trong sinh hoạt tinh thần, văn chương, hội họa, tín ngưỡng… của cư dân miền duyên hải; ngay cả Kinh Thánh cũng nói đến nó. Người Bắc Âu thậm chí còn miêu tả rồng biển có thân hình lượn sóng, dài tới 30 m, đầu giống như đầu ngựa. Tuy nhiên, chỉ mấy thế kỷ gần đây, tính xác thực và hấp dẫn của đề tài này mới trỗi dậy mạnh mẽ do hàng loạt sự kiện về rồng biển được ghi nhận.

Trong chuyến vượt Đại Tây Dương năm 1843, thủy thủ người Tây Ban Nha Roberto Garcia khẳng định thấy một con rồng đen dài chừng 10 m xuất hiện vào một buổi chiều biển động dữ dội. Thủy thủ người Anh Charlie Hoose khi qua Ấn Độ Dương vào một ngày sóng gió năm 1901 cũng thấy một quái vật khổng lồ hình giống rắn. Cả đoàn thủy thủ tàu Paulina thì cam đoan ngày 13/7/1858, họ đã chứng kiến cảnh rồng biển đánh nhau với cá voi!

Ngày 6/8/1848, các thủy thủ chiến hạm Anh Doedalus nhìn thấy ở khoảng giữa mũi Hảo Vọng và đảo Elena một con vật rất lớn hình rắn, bơi lướt trên biển, đầu ngóc hẳn lên mặt nước. 7 năm trước đó, một ngày cuối năm 1841, gần Oporto, nhóm sĩ quan tàu chiến Anh Plumper đã vẽ lại một con vật lạ và khi so sánh các bức vẽ của 2 đoàn thủy thủ, người ta thấy chúng giống nhau. Những bức vẽ sau đó của đoàn thủy thủ tàu Emogen (năm 1856) và tàu Princess (năm 1858) cũng vậy.

Cuối cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, một chiến hạm Đức bắn chìm chiếc tàu Anh Iberian ở phía Bắc Đại Tây Dương. Theo lời viên chỉ huy và các thủy thủ Đức, sau khi tàu Anh nổ chìm dưới mặt nước, cùng với mảnh xác tàu nổi lên là một con vật hình rắn rất lớn, nó vùng vẫy mãnh liệt trong khoảng 12-15 giây rồi lặn mất tăm. Năm 1947, chiếc tàu Mỹ Santa Clara cũng gặp quái vật tương tự. Năm 1951, ngư dân vịnh Herios chứng kiến một con vật hình rắn dài hơn 12m, màu xanh xám, lưng có vây nhọn hoắt như vây cá tuyết và bơi rất nhanh.

Tại Ấn Độ Dương ngày 2/12/1968, khi bay ở độ cao 30 m cách mặt biển, hai phi công Liên Xô Ivan Djouss và Fedor Dolienko bỗng thấy một quái vật khổng lồ dài hơn 10 m, đường kính thân gần 1 m đang bơi ngoằn ngoèo. Vài phút sau, họ lại thấy quái vật thứ nhì có hình dáng tương tự.

Vào một buổi sáng đẹp trời tháng 1/1984, anh kỹ sư máy tàu Jim Thomson vừa câu được một con cá ở gần Vancouver (Canada) thì đột nhiên cách tàu anh chừng 60 m nổi lên một con vật hình rắn dài chừng 8 m, mõm đen nhọn, tai to, trên đầu có những chiếc sừng khá đẹp. Con vật nhìn anh giây lát rồi nhào lộn rất nhanh xuống nước.

Các nhà khoa học nói gì?

Từ thế kỷ 13 đã xuất hiện những người chuyên nghiên cứu về “hiện tượng rồng biển” nhưng chỉ từ cuối thế kỷ 19, việc nghiên cứu mới thực sự mang tính hệ thống và khoa học. Đứng đầu lĩnh vực này phải kể đến nhà bác học Jzlo Oudamans – Uỷ viên Hội Động vật học Hà Lan. Với tác phẩm Con rắn biển khổng lồ dày gần 600 trang, xuất bản năm 1892, Oudamans trình bày chi tiết, đầy sức thuyết phục về sự tồn tại của loài rồng biển. Theo ông, tới thời điểm đó, người ta đã ghi nhận được 162 lần xuất hiện của rồng biển và đã công bố 350 bài viết (dạng tường thuật, khảo cứu…) về loài vật này.

Năm 1868, xác một con “rồng biển” bị sóng đánh dạt vào bãi biển Stonsa và được bác sĩ lừng danh Barclay nghiên cứu, xem xét. Ông công bố dữ liệu về nó: Thân dài 16,75 m, đường kính 0,9 m, có lông ở cổ, có vây bơi trông như cánh ngỗng trụi. Đáng tiếc là bản báo cáo của ông đã không được giới sinh vật học đương thời chú ý.

Năm 1899, chiếc tàu Anh Emu trên đường tới Sydney (Australia) đã dừng lại đảo Sawa và bắt gặp nơi đây xác một quái vật hình rắn dài 18 m, nặng chừng 30 tấn, đầu giống như đầu ngựa, có răng, da đen xám phủ lông rất cứng, đang thối rữa. Hai tờ báo khoa học uy tín thời đó là English Mecanic và Nature đã tường thuật sự kiện này. Tuy nhiên, do cảm giác khó chịu trước đống da thịt phân hủy nên các thủy thủ đã không lấy về bộ phận nào của con vật để làm bằng chứng giúp cho việc nghiên cứu về rồng biển.

Ngày 13/1/1903, Hội Động vật học Pháp họp nghe báo cáo của nhà khoa học Emilio Racovitza (từng tham gia thám hiểm Nam Cực) về sự có thực của rồng biển. Ông bảo vệ thành công quan điểm của mình trước các đồng nghiệp và Hội Động vật học Pháp đã nhất trí đăng công bố bản báo cáo này trên tập san khoa học của Hội.

Cũng tại Pháp, năm 1968, cuốn sách Theo vết thuồng luồng biển của nhà động vật học nổi tiếng Bernard Evenmal – Chủ tịch Hội Nghiên cứu Động vật ẩn quốc tế – được xuất bản và lập tức gây tiếng vang lớn. Trong sách, tác giả đã dẫn ra 500 trường hợp thấy quái vật biển. Ông chia chúng thành 3 nhóm với 9 loại, trong đó một nhóm được coi là rồng biển gồm 4 loại mẫu (loại đầu bờm, loại có vây, loại giống lươn bụng vàng và loại giống thằn lằn nước).

Cùng với những sự kiện và khám phá, số người tin rồng biển có thật không ngừng tăng lên. Theo họ, đại dương mênh mông ẩn chứa nhiều động vật lạ mà giới khoa học chưa biết đến hoặc chưa có điều kiện tiếp cận kỹ càng; rồng biển là một trong số đó. Các nhân chứng đã bắt gặp, tường thuật, vẽ lại rồng biển ở nhiều vùng trên khắp thế giới và sự miêu tả của những nhân chứng khác nhau về rồng biển ở mỗi vùng lại rất giống nhau – đó là bằng cớ đáng tin cậy.

Ngược lại, cũng không ít người coi rồng biển chỉ là con vật huyền thoại. Theo họ, dù đã có nhiều lời kể, hình vẽ về rồng biển nhưng đến nay vẫn chưa ai bắt, chụp ảnh, ghi âm, ghi hình được nó. Chưa trường hợp nào phát hiện xác rồng biển trôi dạt vào bờ mà được khám nghiệm khoa học trước sự chứng kiến rộng rãi, khách quan của phương tiện thông tin đại chúng. Những cuộc săn lùng quy mô lớn với thiết bị hiện đại yểm trợ tại những vùng nghi có rồng biển cũng đều chưa phát hiện được dấu tích gì về quái vật này. Bởi thế, việc bắt gặp rồng biển hoặc là do bịa đặt, hoặc do ảo giác, hoặc do nhầm lẫn với những động vật biển bình thường (cá mập, cá nhà táng, hải sư, bạch tuộc…) trong điều kiện đặc biệt mà thôi.

Các nhà khoa học và thủy sinh vật nêu quan điểm thận trọng hơn. Họ cho rằng nếu rồng biển tồn tại thực sự thì chúng có lẽ là một trong số những loài vật còn sót lại từ thời tiền sử – chẳng hạn một loài ngư long nào đó, thường sống nơi biển sâu và rất ít khi nổi lên mặt nước. Giả thuyết này dễ được chấp nhận vì trong thực tế còn không ít loài “hóa thạch sống” – như trường hợp con Ceratodus nửa cá nửa thằn lằn vẫn đang sống sót ở Australia sau khi dòng giống chúng đã tuyệt chủng cách đây hàng triệu năm, hay như loài Apterix ở New Zealand được coi là hậu duệ tí hon và biến dạng của con Moa khổng lồ vốn đã bị tuyệt diệt từ lâu.

Một giả thuyết khác lại cho rằng rồng biển có thể chỉ là loài rắn biển cực lớn, vì giới khoa học đã tìm thấy hàng trăm loài rắn sống trong các đại dương thuộc họ Hydrophiidae gồm 2 giống chính Laiticanda và Aepysurus, trong đó có loài lớn và dài tới 8 – 9 m.

Như vậy, đến nay vẫn chưa thể khẳng định chính xác rồng biển có thật hay không. Đây cũng là một nguyên nhân làm tăng tính hấp dẫn của đề tài này, khiến ngày càng nhiều người quan tâm, háo hức chờ đón những thông tin mới và kết luận cuối cùng về nó trong tương lai.

Yêu động vật (Tổng hợp)

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.